Tài Chính

Phân Loại Lạm Phát – Phân Loại, Nguyên Nhân Và Tác Động Của Lạm Phát

Do việc kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông của ngân hàng trung ương không chặt chẽ, làm cho khối lượng tiền trong lưu thông vượt quá khối lượng tiễn cần thiết cho lưu thông trong một thời gian.

Đang xem: Phân loại lạm phát

Do chất lượng tín dụng kém, không thu hồi được vốn, làm mất càn đối quan hệ tiến – hàng.

Do tiền lương tăng quá cao, tạo sức cầu hàng hóa lớn, vượt quá khả năng cung ứng hàng hóa của nền kinh tế.

Ngoài ra có thể do các nguyên nhân về tâm lý, như ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng về chính trị, quân sự, kinh tế, hoặc do thiên tại như động đất, bão, núi lừa, sụt bùn, lở núi, v.v.. làm cho dân chúng hoang mang đổ xô đi mua vét hàng hóa, làm sức cẩu hàng hóa gia tăng nhanh chóng, kéo giá cả hàng hóa tăng lên.

Bản chất của lạm phát cầu kéo là do nhu cầu hàng hóa tăng nhanh vượt quá khả năng cung ứng hàng hóa nên kéo giá cả hàng hóa tăng lên.

– Lạm phát do nguyên nhân chi phi đẩy

Trong điều kiện cơ chế thị trường chưa đạt tới tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm, không có một quốc gia nào lại có thể duy trì được trong một thời gian dài với công ăn việc làm đầy đủ cho mọi thành viên trong xã hội, giá cả ổn định và có một thị trường hoàn toàn tự do.

*

Hình 1

Hình 1: Lạm phát do nguyên nhân cầu tăng vượt sản lượng tiềm năng, đường cầu DD1, vượt quá sản lượng tiềm năng. Giá cả tăng từ P lên P’. Đường cung SS’ có độ dốc lớn và cân bằng cung, cầu được lập lại ở một thế mới với giá cả là P’, dường cầu mới là D1D’1.

Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả các loại hàng hóa và tiền lương công nhân luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong khi các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ. Lạm phát xảy ra như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất.

Vấn đề đặt ra là tại sao chi phí sản xuất lại tăng lên? Nhiều nhà kinh tế cho rằng tăng tiền lương là một nguyên nhân đẩy chi phí tăng lên, vì chi phí đầu vào có liên quan đến tiền lương tăng. Theo các nhà kinh tế học, việc đẩy chi phi tiền lương tăng lên là do các công đoàn gây sức ép đòi tăng lương, giảm giờ làm. Tuy nhiên một số nhà kinh tế khác cho rằng chính công đoàn ở các nước tư bản đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tốc độ tăng của lạm phát và giữ không cho lạm phát giảm xuống quá nhanh, vì các hợp đồng tiền lương của các công đoàn thường là dài hạn và khó thay đổi.

Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên. Có nghĩa là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên đã đẩy giá cả hàng hóa tăng lên.

Thực chất ở các nước Tư bản phát triển, khi các cuộc đấu tranh của công đoàn đạt được một thỏa thuận về mức lương mới, thì các nhà Tư bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ mất đi do tăng tiền lương công nhân bằng cách nâng giá bán hàng hóa lên hoặc việc tăng chi phí quản lý hành chính như chi phí tiếp khách, chi phí ngoài sản xuất khác cũng làm cho chi phí sản xuất tăng lên và do vậy đẩy giá cả tăng lên.

Các cuộc khủng hoảng về các loại nguyên liệu cơ bản như dầu mỏ, sắt thép sẽ làm cho giá cả của các loại hàng hóa này tăng lên và điều đó đã đẩy chi phí sản xuất tăng lên, nói chung việc tăng chi phí sản xuất do rất nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cũng có thể do sản xuất không có hiệu quả. Vốn bỏ ra nhiều hơn nhưng sản phẩm thu lại không tăng lên hoặc tăng chậm hơn tốc độ tăng của chi phí sản xuất.

Lạm phát do sức đẩy chi phí được thể hiện trên đồ thị hình 2 như sau:

*

Hình 2

Hình 2: Trên sơ đồ ta thấy là cầu chưa đạt đến sản lượng tiềm năng, đường cung SS1 , gặp đường cầu DD ở E, giá cả được xác định ở P. Đường cung có xu hướng di chuyển từ SS1, lên S’S’1, đường cung S’S’1 gặp đường cầu DD’ ở E’ làm cho giá cả tăng từ P lên P’.

Xem thêm: Hồng Giòn Ăn Hồng Có Tốt Không, Những Điều Cần Nhớ Khi Ăn Quả Hồng

– Lạm phát ỳ.

Một số nhà kinh tế cho rằng: lạm phát ỷ là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. Ở những nước có lạm phát ỳ xảy ra có nghĩa là nền kinh tế của nước đó có một sự cân bằng trông đợi tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được trông đợi và được dự kiến trong các kế hoạch phát triển hàng năm của Chính phủ.

Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, giới Tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát hoàn toàn nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hòa và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn động kinh tế xảy ra (tỷ lệ y tăng hoặc giảm). Nếu như không có sự chấn động nào về cung hoặc cầu thì lạm phát có xu hướng tiếp tục theo tỷ lệ cũ.

*

Hình 3

Hình 3: Bằng hình ảnh trên đồ thị hình 3, chúng ta giả sử rằng sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân là không có. Khi lạm phát tăng với tỷ lệ hàng năm là một tỷ lệ nào đó thì chi phí trung bình cũng tăng lên cùng tỷ lệ. Chi phí tăng lên đẩy đường cung tăng lên, dẫn đến giá cả và tiền lương tăng lên theo vòng xoáy trôn ốc.

Lạm phát ỳ dẫn tới giá cả hàng hóa tăng lên hàng năm với một tốc độ như cũ, D’D’1, D”D”1, và đường cung SS1, S’S’1, S”S”1, cùng dịch chuyển lên trên với một tốc độ giống nhau hàng năm và kinh tế vĩ mô nhận điểm cân bằng mới là E rồi E’, E”…

4. Tác động của lạm phát

Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế như thế nào? điều mà mọi giới trong xã hội luôn luôn quan tâm. Lạm phát thường tác động cả hai mặt: tích cực khi lạm phát thấp và tiêu cực khi lạm phát ở mức phi mã hoặc siêu tốc.

* Lạm phát làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau.

Khi có lạm phát những người có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi, vì giá cả các loại tài sản, hàng hóa đều tăng lên, còn giá trị tiền tệ lại giảm xuống. Những người làm công ăn lương chỉ có nguồn thu nhập chính là tiền lương và những người gửi tiền là bị thiệt hại.

Vì vậy để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra bài tính đơn giản là lãi suất cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát.

Ví dụ lãi suất thực tế là 5% năm, tỷ lệ trượt giá là 9% năm thì lãi suất danh nghĩa phải là 14% năm.

Tuy nhiên một sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện ở mức lạm phát thấp, lạm phát ở mức một con số hàng năm. Khuynh hướng chung là khi dự đoán có lạm phát, người ta thường dự trữ vàng hoặc đầu tư vào bất động sản hoặc đầu tư các tài sản có giá trị khác.

Trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 1988 nhiều người đầu cơ vàng và bất động sản ở Việt Nam đã giàu lên nhanh chóng, còn những người làm công ăn lương thì ngày một bần hàn hơn, khó khăn hơn.

Nhìn chung những người dự trữ vàng vẫn có lợi nhất, vì giá vàng so sánh với các loại hàng hóa cao cấp như: ô tô, xe máy kể cả các loại hàng hóa thông thường như: gạo, muối, đường và ngoại tệ thì không suy giảm chút nào. Vì vậy trong thời kỳ giá Vàng xuống mức rất thấp họ tăng cường mua Vàng và bán ra khi giá Vàng được nâng lên. Trong thời kỳ này những người gửi tiền tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất.

Xem thêm: Viên Uống Trị Tiểu Đường Actos 15Mg Nhật Bản 100 Viên

Lạm phát với mức độ phi mã hoặc siêu tốc thì nợ nần của Chính phủ được giảm bớt, song Chính phủ sẽ bị áp lực chính trị của đông đảo quần chúng, nhân dân lao động bị thiệt hại do lạm phát xảy ra.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button